Old Saigon before 1975Trần Vũ Đặng2020-02-08 | Old Saigon before 1975Công Viên Giọt Nước (số 1 Lý Thái Tổ)Trần Vũ Đặng2026-09-20 | Công viên "Giọt nước" (tên chính thức là Công viên số 1 Lý Thái Tổ tại TP.HCM) được xây dựng với ý nghĩa là không gian tưởng niệm thiêng liêng dành cho hơn 23.000 đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đã mất trong đại dịch COVID-19. Ý nghĩa của biểu tượng "Giọt nước". Ký ức đau thương: Hình ảnh giọt nước rơi xuống chạm mặt đất tạo thành hố sâu tượng trưng cho vết sẹo và nỗi mất mát lớn lao từ đại dịch. Sự hồi sinh và lan tỏa: Giọt nước tan ra thành các gợn sóng mang thông điệp chuyển hóa nỗi buồn thành năng lượng tích cực, hướng con người tới tương lai. Vừa là khoảng lặng tưởng niệm, vừa là nơi chốn bình yên để người dân tản bộ, sống chậm lại và tìm thấy sự cân bằng giữa nhịp sống đô thị hối hả.Dinh Độc Lập tại Saigon (2026)Trần Vũ Đặng2026-09-19 | Dinh Độc Lập được Tổng thống Ngô Đình Diệm cho khởi công xây dựng ngày 1 tháng 7 năm 1962, sau khi dinh cũ từ thời Pháp thuộc bị hư hại do vụ đánh bom của hai phi công. Dinh được xây theo bản thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã. Trong thời gian xây dựng, gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm tạm thời chuyển sang sống tại Dinh Gia Long. Công trình đang xây dựng dở dang thì Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính ám sát ngày 2 tháng 11 năm 1963. Do vậy, ngày khánh thành dinh, 31 tháng 10 năm 1966, người chủ tọa buổi lễ là Nguyễn Văn Thiệu, (Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia) Từ ngày này, Dinh Độc Lập mới xây dựng trở thành nơi ở và làm việc của tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sống ở dinh này từ tháng 10 năm 1967 đến ngày 21 tháng 4 năm 1975. Ngày 8 tháng 4 năm 1975, chiếc máy bay F-5E do phi công Nguyễn Thành Trung lái, xuất phát từ Biên Hòa, đã ném bom Dinh nhằm mục đích ám sát Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, gây hư hại không đáng kể. Hiện nay đây là di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng được đông đảo du khách trong nước và nước ngoài đến tham quan. Nơi này được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Di tích lịch sử Dinh Độc Lập là một trong 10 di tích quốc gia đặc biệt đầu tiên của Việt Nam.Đoàn tàu di sản Huế - Đà Nẵng 2026Trần Vũ Đặng2026-09-18 | Đoàn tàu di sản Huế - Đà Nẵng (tên chính thức là chuyến tàu “Kết nối di sản miền Trung”) là tuyến du lịch đường sắt khai thác hành trình chạy qua đèo Hải Vân giữa ga Huế và ga Đà Nẵng. Quãng đường và thời gian: Khoảng 103 km với thời gian di chuyển khoảng 3 tiếng mỗi chiều. Lộ trình: Dừng tại 3 ga chính gồm Ga Huế, Ga Lăng Cô (dừng 10 phút để du khách chụp ảnh vịnh Lăng Cô) và Ga Đà Nẵng. Lịch chạy hàng ngày: Gồm 2 đôi tàu (HĐ1/HĐ2 và HĐ3/HĐ4) xuất phát đều đặn từ hai đầu ga Huế và Đà Nẵng trong ngày. Cung đường ngoạn mục: Chạy qua đèo Hải Vân – nơi được mệnh danh là "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" – với một bên là dãy Trường Sơn và một bên là biển cả mênh mông. Không gian văn hóa: Tích hợp toa xe sinh hoạt cộng đồng phục vụ âm nhạc (như ca Huế), không gian check-in mang phong cách hoài cổ và giới thiệu ẩm thực đặc trưng địa phương. Giá vé tham khảo: Vé ghế mềm điều hòa dao động từ khoảng 150.000 – 220.000 VND/lượtVăn Miếu Trấn Biên (Đồng Nai- Biên Hòa)Trần Vũ Đặng2026-09-17 | Văn miếu Trấn Biên được xây dựng vào năm 1715 (năm Ất Mùi) dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Chu. Đây là Văn miếu đầu tiên được xây dựng tại xứ Đàng Trong (vùng đất Nam Bộ ngày nay), đóng vai trò là biểu tượng giáo dục và văn hóa lịch sử lâu đời của tỉnh Đồng Nai(TP Biên Hoà). Năm 1715: Chúa Nguyễn Phúc Chu sai trấn thủ Nguyễn Phan Long và ký lục Phan Khánh Đức khởi công xây dựng. Công trình nhằm mục đích tôn vinh Khổng Tử, các danh nhân văn hóa nước Việt và làm nơi đào tạo nhân tài cho phương Nam. Năm 1794 và 1852: Văn miếu trải qua hai lần trùng tu lớn dưới triều Nguyễn, nâng cấp quy mô khang trang hơn. Năm 1861: Sau khi chiếm được Nam Kỳ, thực dân Pháp đã phá hủy hoàn toàn công trình này nhằm triệt hạ biểu trưng văn hóa của người Việt nơi đây. Năm 1998 - 2002: Nhân kỷ niệm 300 năm hình thành vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, tỉnh đã cho khởi công phục dựng lại Văn miếu trên nền đất cũ. Công trình hoàn thành vào năm 2002 và hiện tọa lạc tại khu vực phường Trấn Biên, thành phố Biên Hòa. Năm 2016: Văn miếu Trấn Biên chính thức được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.Trung tâm hành hương Đức Mẹ Núi Cúi.Trần Vũ Đặng2026-09-16 | Đức Mẹ Núi Cúi (tên chính thức là Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội hay Núi Cát Minh) là trung tâm hành hương Công giáo lớn và là nơi tôn kính bức tượng Đức Mẹ Maria cao nhất Việt Nam hiện nay. Địa chỉ: Tọa lạc tại xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai (thuộc giáo xứ Dốc Mơ, Giáo hạt Gia Kiệm, Giáo phận Xuân Lộc). Vị trí: Nằm trên đỉnh núi Cúi, hướng mặt ra hồ Trị An, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 80–90 km.Đình Thần An Khánh (Thủ Thiêm)Trần Vũ Đặng2026-09-15 | Đình thần An Khánh tọa lạc tại bán đảo Thủ Thiêm, Thành phố Thủ Đức, TP.HCM, là ngôi di tích lịch sử văn hóa có tuổi đời hơn 300 năm, gắn liền với quá trình khai hoang mở cõi vùng đất phương Nam. Thời kỳ khai lập: Đình được người dân tạo dựng vào khoảng năm 1679 – 1725, ban đầu chỉ là một ngôi đình làng nhỏ của thôn An Lợi. Dấu ấn sắc phong: Đình lưu giữ nhiều di vật quý, tiêu biểu là sắc phong của triều Nguyễn (thời vua Tự Đức năm 1852) phong cho Thành hoàng bổn cảnh là Thống sư Trần Quãng (hoặc Trần Thống Quân Hà Quảng). Nơi đây cũng có khu lăng mộ của võ tướng họ Trần và phu nhân. Vai trò lịch sử: Qua các thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ngôi đình là chốn nương náu, nơi hội họp, trú quân của các cán bộ cách mạng và là điểm tựa tinh thần vững chắc cho nhân dân ven sông Sài Gòn. Di dời và phục dựng: Khi xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm, đình phải di dời năm 2014 và được chính quyền TP.HCM phục dựng khang trang ngay tại phường Thủ Thiêm. Ngôi đình mới khánh thành vào tháng 4 năm 2023.Nhà Thờ Thủ Thiêm.Trần Vũ Đặng2026-09-15 | Nhà thờ Thủ Thiêm được khởi công xây dựng vào năm 1859, là một trong những công trình tôn giáo lâu đời nhất bên bờ sông Sài Gòn với tuổi đời hơn 160 năm. Các mốc lịch sử quan trọng. Năm 1840: Tu viện Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm được thành lập trước, đặt nền móng cho sinh hoạt công giáo tại đây. Năm 1859: Nhà thờ Thủ Thiêm được khởi công xây dựng, ban đầu làm bằng vật liệu gỗ đơn sơ. Năm 1874: Nhà xứ của giáo xứ được khánh thành. Năm 1930: Tháp chuông nhà thờ được xây dựng thêm, treo 5 quả chuông được đúc tại Pháp từ giai đoạn 1889–1892. Năm 1956: Hội dòng khởi công xây dựng ngôi nhà thờ mới trong khuôn viên tu viện để đáp ứng nhu cầu tôn giáo ngày càng lớn. Kiến trúc và đặc điểm nổi bật. Kiến trúc: Giao hòa giữa phong cách Á Đông và kiến trúc Pháp, có hình thánh giá với hệ mái ngói đỏ và tường sơn vàng đặc trưng. Vị trí: Tọa lạc tại số 58 (Khu phố 1, phường Thủ Thiêm, Thành phố Hồ Chí Minh), sát ngay bên bờ sông Sài Gòn. Giá trị: Là "chứng nhân lịch sử" trải qua bao thăng trầm quy hoạch của đô thị, nơi sinh hoạt tôn giáo lâu đời của hàng trăm nữ tu và giáo dân.Chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn Q3.Trần Vũ Đặng2026-09-13 | Chùa Vĩnh Nghiêm tại Sài Gòn Q3 được khởi công xây dựng vào năm 1964 và hoàn thành vào năm 1971. Từ miền Bắc, hai Hòa thượng là Thích Tâm Giác và Thích Thanh Kiểm vào miền Nam truyền bá đạo Phật, và sau đó đã cho xây dựng chùa Vĩnh Nghiêm. Họ lấy nguyên mẫu thiết kế từ một ngôi chùa gỗ cùng tên ở làng Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; kiến lập từ đời vua Lý Thái Tổ, vốn là trung tâm truyền bá Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm. Người vẽ kiểu cho công trình là kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng, có sự cộng tác của các ông Lê Tấn Chuyên và Cổ Văn Hậu... Địa chỉ hiện tại: Số 339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.Chùa Ngọc Hoàng(Phước Hải Tự,người Pháp xưa gọi là chùa Đa Kao) toạ lạc tại 73 Mai Thị Lựu Q1.Trần Vũ Đặng2026-09-11 | Chùa Ngọc Hoàng (tên chữ là Phước Hải Tự, người Pháp xưa gọi là chùa Đa Kao) tọa lạc tại số 73 Mai Thị Lựu, Quận 1, được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XX (năm 1902) bởi một người Hoa gốc Quảng Đông tên là Lưu Minh. Các mốc lịch sử quan trọng. Năm 1902: Khởi công xây dựng với ban đầu là điện thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế và kết hợp ăn chay, tụng kinh theo tín ngưỡng dân gian Trung Hoa. Năm 1982: Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp quản và quản lý ngôi chùa. Năm 1984: Chùa chính thức được đổi tên thành Phước Hải Tự. Năm 1994: Được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.Vĩnh Tràng Cổ Tự (Mỹ Tho)Trần Vũ Đặng2026-09-11 | Chùa Vĩnh Tràng tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, là một ngôi cổ tự nổi tiếng được khởi dựng vào đầu thế kỷ XIX bởi tri huyện Bùi Công Đạt và vợ. Các mốc lịch sử hình thành và phát triển. Đầu thế kỷ XIX: Khởi thủy là một thảo am nhỏ (am dùng làm nơi tu hành) do ông bà Bùi Công Đạt xây dựng dưới thời vua Minh Mạng. Năm 1849: Hòa thượng Thích Huệ Đăng về trụ trì, tổ chức xây dựng lại thành ngôi đại tự quy mô lớn, đặt tên là Vĩnh Trường (với mong muốn "vĩnh cửu sơn hà, trường tồn thiên địa"), sau này người dân quen gọi chệch thành Vĩnh Tràng. Năm 1894: Hòa thượng Thích Huệ Đăng tiếp tục tôn tạo và chính thức định danh chùa với tên gọi Vĩnh Trường. Năm 1907: Hòa thượng Trà Chánh Hậu tổ chức sửa chữa lại phần chánh điện, bắt đầu kết hợp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống phương Đông và phong cách kiến trúc phương Tây. Năm 1930: Hòa thượng Minh Đằng cho đại trùng tu toàn diện ngôi chùa, định hình nên diện mạo kiến trúc độc đáo, giao thoa Á - Âu như hiện nay. Năm 1984: Chùa Vĩnh Tràng được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia.Chùa Tam Chúc - Hà NamTrần Vũ Đặng2026-09-09 | Chùa Tam Chúc tọa lạc tại thị trấn Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 60 km. Quy mô diện tích: Quần thể Khu du lịch quốc gia Tam Chúc có tổng diện tích lên tới 5.100 ha (bao gồm hồ nước rộng lớn, núi đá tự nhiên và rừng cây), trong đó riêng diện tích khu chùa khoảng 144 ha. Với không gian vô cùng rộng lớn này, nơi đây được nhiều tài liệu và phương tiện truyền thông giới thiệu là quần thể chùa lớn nhất thế giới cho đến thời điểm này. Cảnh quan "Tiền Lục Nhạc - Hậu Thất Tinh": Chùa có vị trí phong thủy đắc địa với mặt tiền hướng ra hồ Tam Chúc rộng lớn (có 6 hòn đảo nhỏ nổi lên như 6 quả chuông), lưng tựa vào dãy núi Thất Tinh hùng vĩ. Các công trình kiến trúc đồ sộ: Bao gồm Cổng Tam Quan, Điện Quan Âm, Điện Pháp Chủ và Điện Tam Thế. Trong đó, Điện Tam Thế là tòa điện lớn nhất với chiều cao 39 m và sức chứa hàng nghìn người. Báu vật và kỷ lục Phật giáo: 12.000 bức tranh phù điêu: Được tạc tinh xảo từ đá núi lửa ở Indonesia bởi các nghệ nhân Hồi giáo, tái hiện cuộc đời của Đức Phật. Pho tượng khổng lồ: Chùa lưu giữ nhiều pho tượng Phật bằng đồng nguyên khối cực lớn như tượng Phật ở Điện Pháp Chủ nặng 150–200 tấn hay ba pho tượng Tam Thế lớn ở điện chính. Vườn cột kinh: Gồm nhiều hàng cột đá lớn mô phỏng trụ đá Asoka Ấn Độ, khắc các lời dạy của Phật. Chùa Ngọc: Nằm trên đỉnh núi Thất Tinh, làm bằng đá granite đỏ ghép khít không dùng xi măng, thờ tượng Phật làm từ đá ruby nguyên khối.Chùa Phật Quốc Vạn Thành(thị xã Bình Long - tỉnh Bình Phước)Trần Vũ Đặng2026-09-07 | Chùa Phật Quốc Vạn Thành tọa lạc tại khu phố Xa Cam 1, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Năm khởi công: Ngày 05/01/2017. Năm khánh thành: Ngày 20/01/2021 (sau 4 năm thi công xây dựng). Quy mô: Tổng diện tích khu liên hợp rộng 117.726 m² với 24 hạng mục công trình lớn. Điểm đặc biệt của chùa: Trên mái chính điện tôn trí bức tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cao 73m, xây dựng trên diện tích 8.100 m². Đây được xem là pho tượng Phật ngồi cao nhất Đông Nam Á hiện nay. Kiến trúc giao thoa độc đáo: Ngôi chùa kết hợp hài hòa giữa lối kiến trúc Phật giáo truyền thống của Việt Nam và văn hóa kiến trúc Nhật Bản. Cảnh quan thiên nhiên: Mặt trước của chùa hướng ra đập Sở Nhì (thường gọi là hồ Chà Là), ba mặt xung quanh được bao bọc bởi không gian cây xanh thoáng mát.Châu Thới Cổ Tự TP.Dĩ An - Bình DươngTrần Vũ Đặng2026-09-05 | Chùa Châu Thới (hay Châu Thới Cổ Tự) tọa lạc tại thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương là một trong những ngôi chùa cổ xưa nhất Nam Bộ với hơn 400 năm lịch sử. Ngôi cổ tự này nằm cheo leo trên đỉnh núi Châu Thới cao khoảng 82m, ẩn mình sau những tán cây cổ thụ và được bao bọc bởi các hồ nước tự nhiên. Sự tích về Thiền sư sáng lập: Vào khoảng đầu thế kỷ 17 (năm 1612), Thiền sư Khánh Long trên đường truyền đăng độ chúng đến vùng đất Nam Bộ đã nhìn thấy long mạch và sinh khí tụ lại trên đỉnh núi Châu Thới. Ngài đã quyết định dựng một am tranh nhỏ tại đây để tu hành (ban đầu gọi là Hội Sơn Tự). Việc vận chuyển vật liệu lên đỉnh núi cao dựng chùa giữa thời kỳ hoang vu đầy thú dữ lúc bấy giờ được người đời xem như một kỳ tích, thể hiện sự che chở của hộ pháp và thần núi đối với lòng thành của bậc chân tu.Cột cờ Thủ Ngữ tại Saigon xưa 1865-2026Trần Vũ Đặng2026-09-05 | Cột cờ Thủ Ngữ được người Pháp xây dựng vào tháng 10 năm 1865 tại ngã ba sông Sài Gòn và kênh Bến Nghé (nay thuộc đường Tôn Đức Thắng, Quận 1). Công trình này được dựng trên nền cũ của dinh quan Thủ Ngữ dưới thời nhà Nguyễn. Làm cột tín hiệu hàng hải: Ban đầu, người Pháp gọi đây là "Mât des signaux" (cột tín hiệu). Chức năng chính của cột cờ là treo cờ hiệu để báo hiệu, điều tiết và hướng dẫn tàu thuyền ra vào cảng Sài Gòn – Gia Định, giúp tàu bè nhận biết khi nào được cập cảng hoặc phải chờ đợi. Ý nghĩa tên gọi: Từ "Thủ Ngữ" có gốc Hán-Việt, trong đó "thủ" là giữ, "ngữ" là án ngữ, ý chỉ vị trí án ngữ ngay cửa ngõ giao thương đường thủy. Tính đến nay nó đã hơn 159 năm tuổi. Năm 2016, cột cờ Thủ Ngữ được thành phố xếp hạng là di tích lịch sử cấp TP.Chợ Vị Thanh(hay còn gọi là chợ “chồm hổm” ngăn nắp nhất Việt Nam)Trần Vũ Đặng2026-09-04 | Chợ Vị Thanh (hay còn gọi là chợ "chồm hổm" ngăn nắp nhất VN) nằm gần cầu Cái Nhúc, trên đường Nguyễn Văn Trỗi, phường Vị Thanh, thành phố Cần Thơ (địa phận tỉnh Hậu Giang cũ). Điểm độc đáo của chợ Vị Thanh: Người bán ngồi xổm hoặc kê ghế nhỏ, bày biện hàng hóa trên những khoảng đất trống gọn gàng ngay sát bờ sông. Thời gian họp chợ đặc biệt: Chợ bắt đầu từ lúc tờ mờ sáng (khoảng 2–3 giờ đêm) và tan nhanh vào khoảng 10 giờ sáng. Hàng hóa "cây nhà lá vườn": Các mặt hàng ở đây chủ yếu là đồ tự sản tự tiêu do nông dân tự trồng hoặc đánh bắt được như rau củ quả tươi, cá đồng nhảy tanh tách. Không gian đậm chất quê: Nhịp mua bán diễn ra tấp nập, mộc mạc và chan chứa tình làng nghĩa xóm, phản ánh rõ nét văn hóa sông nước miền Tây.Nhà máy chế biến thuốc phiện lớn nhất Đông Dương tại Saigon xưa.Trần Vũ Đặng2026-09-04 | Số 74 đường Hai Bà Trưng (xưa là đường Rue Paul Blanchy), Quận 1, TP.HCM từng là Nhà máy chế biến thuốc phiện (La Manufacture d'Opium) lớn nhất Sài Gòn và Đông Dương thời Pháp thuộc. Năm xây dựng: Được người Pháp xây dựng vào năm 1881 nhằm độc quyền sản xuất và phân phối thuốc phiện, thu lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho ngân sách thuộc địa. Quy mô: Rộng khoảng 1 ha, nằm trên khu đất hình chữ nhật ngay phía sau Nhà hát Thành phố. Hoạt động: Nhập nguyên liệu thô từ Vân Nam (Trung Quốc) hoặc Ấn Độ để chế biến thành thành phẩm phục vụ cho hệ thống tiêu thụ hợp pháp thời đó. Nơi đây hoạt động cho đến khi việc sản xuất thuốc phiện bị cấm vào năm 1954. Hiện trạng ngày nay: Khuôn viên nhà máy cũ nay đã trở thành một khu phức hợp ẩm thực và không gian thoáng đãng nằm ẩn mình trong hẻm. Các nhà hàng và quán cà phê nổi tiếng tọa lạc tại đây bao gồm The Refinery và Hoa Túc Saigon (tên "Hoa Túc" xuất phát từ tiếng chỉ loài hoa anh túc). Một số chi tiết kiến trúc cũ như khung cửa hay cổng ra vào vẫn giữ được dấu ấn của thời kỳ thuộc địa.Động Huyền Không (Đà Nẵng)Trần Vũ Đặng2026-09-04 | Động Huyền Không là hang động lộ thiên đẹp và huyền ảo nhất nằm trên đỉnh Thượng Thai thuộc ngọn Thủy Sơn trong quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn tại Đà Nẵng. Thời điểm đẹp nhất trong ngày: Từ 9:00 đến 11:00 sáng, khi ánh nắng mặt trời chiếu qua các lỗ thông thiên (giếng trời) rọi thẳng xuống lòng động, tạo nên khung cảnh lung linh như chốn bồng lai. Kiến trúc lộ thiên độc đáo: Động có vòm hình chuông mở thông lên trời, giúp không gian luôn thoáng đãng, mát mẻ hơn bên ngoài khoảng 5–7°C và tràn ngập ánh sáng tự nhiên. Không gian tâm linh phong phú:Nơi đặt tượng Phật Thích Ca Mâu Ni lớn bằng đá cao 2,5m và bàn thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát. Đền thờ các vị thần linh như bà Ngọc Phi, bà Lồi Phi và chùa Trang Nghiêm Tự bên trong với các gian thờ Quan Âm, Quan Công và Ông Tơ Bà Nguyệt. Trải nghiệm thư giãn: Chiêm ngưỡng các khối nhũ đá tự nhiên lấp lánh, lắng nghe tiếng nước nhỏ giọt thanh tịnh và tận hưởng bầu không gian yên bình, tĩnh tâm.Ký ức tuổi thơ…Trần Vũ Đặng2026-08-22 | ...ngày 22 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-22 | ...ngày 20 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-20 | ...ngày 20 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-20 | ...Chùa Pháp Hoa Q3Trần Vũ Đặng2026-08-19 | Chùa Pháp Hoa tại Saigon (Q3) được Hòa thượng Đạo Hạ Thanh thành lập và xây dựng vào năm 1928. Lịch sử và các lần trùng tu: Ban đầu (1928): Chùa được xây dựng rất đơn sơ với mái tranh và vách ván. Trùng tu lớn: Chùa trải qua nhiều đợt tôn tạo vào các năm 1932, 1965, 1990 và lần gần nhất là 1993 để có diện mạo khang trang như hiện nay. Di tích lịch sử (2015): Chùa được công nhận là Di tích Lịch sử cấp thành phố.ngày 19 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-18 | ...ngày 19 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-18 | ...Nhà Giàn DK1Trần Vũ Đặng2026-08-18 | Nhà giàn DK1 là hệ thống các công trình kinh tế - quốc phòng kiên cố trên thềm lục địa phía Nam của Việt Nam, cách đất liền khoảng 250 - 350 hải lý. DK1 viết tắt từ cụm từ "Dịch vụ kinh tế - Khoa học kỹ thuật", được xây dựng từ năm 1989 nhằm bảo vệ chủ quyền, nghiên cứu biển và hỗ trợ ngư dân. Khẳng định chủ quyền: Đóng vai trò như những cột mốc sống chủ quyền quốc gia trên biển. Hỗ trợ ngư dân: Là điểm tựa an toàn cho tàu thuyền đánh bắt hải sản, cung cấp nơi trú bão, nước ngọt và ứng cứu y tế. Nghiên cứu khoa học: Thu thập dữ liệu về khí tượng, hải văn và thềm lục địa. Khu vực xây dựng: Đặt trên các bãi cạn trọng yếu như Tư Chính, Phúc Tềnh (Phúc Tần), Phúc Nguyên, Huyền Trân, Quế Đường, Ba Kè và Cà Mau. Quản lý: Do Tiểu đoàn DK1 thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân trực tiếp quản lý và chốt giữ. Điều kiện: Đối mặt với thời tiết khắc nghiệt, gió bão lớn nhưng cán bộ chiến sĩ luôn kiên cường bám trụ với tinh thần "còn người, còn nhà giàn".Quần Đảo Trường Sa Việt NamTrần Vũ Đặng2026-08-17 | Việt Nam đang quản lý và đóng giữ 21 thực thể địa lý tại quần đảo Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa), bao gồm các đảo nổi có cây xanh, nhà cửa và các đảo chìm (đá ngầm). Các đảo nổi (7 đến 10 đảo tùy theo cách phân loại). Trường Sa (Trường Sa Lớn - đảo lớn nhất, có đường băng sân bay). Song Tử Tây (đảo lớn thứ hai). Nam Yết - Sơn Ca - Sinh Tồn - Sinh Tồn Đông - Phan Vinh - Trường Sa Đông - An Bàng- Huyền Trân (thường được xếp vào nhóm đảo nổi/cồn san hô tùy theo tài liệu cập nhật). Các đảo chìm / đá ngầm (11 đến 12 thực thể). Đá Nam - Đá Lớn - Đá Thị - Cô Lin - Len Đao - Đá Tây - Đá Đông -Tốc Tan - Núi Le - Tiên Nữ - Thuyền Chài - Đá Lát.500 xe bán tải chở sầu riêng ở Đăk Lăk lập kỷ lục GuinnessTrần Vũ Đặng2026-08-17 | ...Chùa Đồng Yên Tử.Trần Vũ Đặng2026-08-17 | Chùa Yên Tử (Quảng Ninh) gắn liền với lịch sử hơn 700 năm hình thành của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nơi đây bắt đầu từ thời các đạo sĩ tu tiên, sau đó trở thành kinh đô Phật giáo Đại Việt khi vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng lên đây tu hành, sáng lập dòng thiền mang đậm bản sắc Việt. Thời kỳ tiền thân và khởi đầu (Thế kỷ III TCN – Thế kỷ XIII). Đạo sĩ An Kỳ Sinh: Tương truyền từ thế kỷ III trước Công nguyên, các đạo sĩ đã lên núi tu luyện. Tên núi xưa là An Tử Sơn theo tên ngài. Thời nhà Lý: Thiền sư Hiện Quang lên núi khai sơn chùa Vân Yên (nay là chùa Hoa Yên) vào thế kỷ XIII, mở đầu cho việc dựng am, xây chùa tu tập. Vua Trần Thái Tông: Năm 1236, vua đến Yên Tử tìm chốn thanh tịnh, đặt nền móng cho hoàng gia hướng về cửa Phật tại đây. Giai đoạn hoàng kim – Thiền phái Trúc Lâm (Thế kỷ XIII – XIV). Phật hoàng Trần Nhân Tông: Sau hai lần đánh thắng giặc Nguyên Mông, ngài nhường ngôi, lên đỉnh Yên Tử xuất gia năm 1299. Sáng lập Trúc Lâm: Ngài hợp nhất ba dòng thiền Việt Nam thành Thiền phái Trúc Lâm và lấy pháp hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng. Đệ Nhị Tổ Pháp Loa: Kế tiếp sự nghiệp, ngài cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ, mở rộng quy mô Phật giáo Yên Tử. Các thời kỳ tiếp theo và hiện tạiThời Lê – Nguyễn: Nơi đây tiếp tục được tu bổ. Do kiêng húy tên vua thời Lê (An Đô Vương Trịnh Giang), tên núi đổi từ An Tử thành Yên Tử. Ngày nay: Hệ thống tháp mộ, am chùa cổ kính cùng chùa Đồng trên đỉnh núi biến Yên Tử thành di tích quốc gia đặc biệt, thu hút khách hành hương mỗi dịp đầu năm.ngày 16 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-16 | ...ngày 16 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-16 | ...Chùa Hoè NhaiTrần Vũ Đặng2026-08-15 | Chùa Hòe Nhai (Hồng Phúc Tự) tại Hà Nội là ngôi cổ tự lâu đời và là tổ đình của thiền phái Tào Động. Nơi đây lưu giữ bức tượng "Vua sám hối" (vua cõng Phật) độc nhất vô nhị ở Việt Nam, tạc hình vua Lê Hy Tông quỳ cúi lưng để đức Phật ngự lên, biểu trưng cho sự sám hối và tôn vinh đạo pháp. Chùa Hòe Nhai Tọa lạc tại phố Hàng Than, quận Ba Đình, Hà Nội. Vai trò: Là một trung tâm Phật giáo lớn từ thời Lê - Trịnh, gắn liền với các cao tăng thiền phái Tào Động. Lưu giữ nhiều di vật, hệ thống tượng pháp đa dạng và có giá trị nghệ thuật cao. Tượng "Vua sám hối" (Vua cõng Phật) Tượng sơn son thếp vàng mô tả một vị vua mặc triều phục, đầu đội mũ miện, đang quỳ gối cúi mình, và ở trên lưng là pho tượng Phật ngồi. Ý nghĩa lịch sử - triết lý: Gắn với tích vua Lê Hy Tông từng có chiếu chỉ ban hành hạn chế hoặc bức hại Phật giáo,sau đó nhận ra sai lầm nên đã cho tạc tượng vua quỳ gối cõng Phật để đời sau sám hối. Thể hiện tinh thần bao dung của đạo Phật và bài học sâu sắc về sự thức tỉnh, biết quay đầu nhận lỗi dù ở vị thế tối cao.Linh Sơn Bửu Thiền Tự.Trần Vũ Đặng2026-08-14 | Linh Sơn Bửu Thiền Tự (còn được gọi là Chùa Thượng hay Chùa núi Thị Vải) là một ngôi cổ tự có lịch sử hơn 200 năm, tọa lạc trên đỉnh núi Thị Vải thuộc phường Phú Mỹ, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ngôi chùa này gắn liền với giai thoại lịch sử cứu vua Gia Long và sự hình thành của tên gọi núi Thị Vải. Sự hình thành tên núi: Bà Lê Thị Nữ là người đầu tiên lên đỉnh núi này ẩn tu. Do người dân địa phương kính trọng gọi bà là Thị Vãi (cách gọi tôn xưng người phụ nữ đi tu), ngọn núi này dần mang tên gọi là núi Thị Vải. Ơn cứu giá vua Gia Long: Trong thời gian bôn ba lánh nạn nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh (sau này là vua Gia Long) đã chạy lên núi và được Ni sư Diệu Thiện che chở, nuôi giấu. Sắc phong của triều đình: Sau khi lên ngôi vua, để cảm niệm công ơn cứu mạng năm xưa, vua Gia Long đã sắc phong cho bà là Linh Sơn Thánh Mẫu, đồng thời ban sắc tứ cho nơi bà tu hành tên gọi là Sắc tứ Linh Sơn Bửu Thiền Tự.Bảo Tàng Lịch Sử Thành Phố.Trần Vũ Đặng2026-08-14 | Bảo tàng Lịch sử Thành Phố được thành lập năm 1929. Ban đầu, nơi đây có tên là Bảo tàng Blanchard de la Brosse (theo tên viên Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ) và là bảo tàng đầu tiên được xây dựng tại khu vực miền Nam. Các mốc tên gọi qua các thời kỳNăm 1929: Khởi nguồn là Bảo tàng Blanchard de la Brosse, tòa nhà chính được kiến trúc sư Auguste Delaval thiết kế và hoàn thành việc xây dựng từ năm 1927. Năm 1956: Đổi tên thành Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn, chuyên trưng bày mỹ thuật cổ của Việt Nam và một số nước châu Á. Ngày 23/8/1979: Chính thức đổi tên thành Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM hoạt động cho đến nay.ngày 12 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-12 | ...Đảo Lý Sơn.Trần Vũ Đặng2026-08-09 | Đảo Lý Sơn là một huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Ngãi, nằm cách đất liền khoảng 30 km. Nơi đây nổi tiếng với phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, làn nước biển trong vắt, các dấu tích miệng núi lửa cổ và được mệnh danh là "vương quốc tỏi" của Việt Nam.ngày 9 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-09 | ...ngày 9 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-09 | ...Cầu Rồng Đà Nẵng.Trần Vũ Đặng2026-08-08 | Cầu Rồng ở Đà Nẵng do liên danh công ty Ammann & Whitney Consulting Engineers và Tập đoàn Louis Berger (Mỹ) thiết kế kiến trúc và kết cấu. Riêng phần tạo hình đầu và đuôi rồng do điêu khắc gia người Việt Nam là ông Phạm Văn Hạng thiết kế. Chi tiết thiết kế Cầu Rồng: Liên danh Louis Berger Group và Ammann & Whitney (Mỹ) vượt qua 17 phương án quốc tế khác để được chọn. Ý tưởng kiến trúc: Mô phỏng hình dáng con rồng thời Lý vươn mình bay ra biển lớn, thể hiện khát vọng phát triển mạnh mẽ của thành phố Đà Nẵng. Điêu khắc đầu và đuôi rồng: Do điêu khắc gia Phạm Văn Hạng đảm nhận.ngày 8 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-08 | ...ngày 7 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-07 | ...ngày 6 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-06 | ...ngày 6 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-06 | ...Cầu Mống tại Saigon (cầu đi bộ từ Q1 qua Q4)Trần Vũ Đặng2026-08-04 | Cầu Mống là một trong những công trình kiến trúc cổ xưa nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh, bắc qua kênh Bến Nghé nối Quận 1 và Quận 4, được xây dựng vào năm 1893–1894 bởi người Pháp.Quá trình hình thành và tên gọiXây dựng: Do Công ty vận chuyển hàng hải Pháp Messageries Maritimes đầu tư và công ty Levallois Perret (tiền thân của hãng Eiffel) thi công trong giai đoạn 1893–1894.Tên gốc: Người Pháp đặt tên là Arc-en-ciel (nghĩa là cầu vồng).Tên dân gian: Do dáng cầu có hình vòm cong như vòng mống, người Việt gọi là cầu Mống. Ban đầu cầu sơn màu đen, sau đổi thành màu xanh ngọc bích.ngày 2 tháng 8, 2026Trần Vũ Đặng2026-08-02 | ...Một vòng miền tây!Trần Vũ Đặng2026-08-01 | ...Chùa Bích Động là một ngôi cổ tự được hình thành từ năm 1428 đầu thời Hậu Lê.Trần Vũ Đặng2026-07-31 | Chùa Bích Động là một ngôi cổ tự được hình thành từ năm 1428 đầu thời Hậu Lê, tọa lạc trên dãy núi đá vôi Trường Yên thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Ngôi chùa này nằm trong Quần thể danh thắng Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới.Hải Vân QuanTrần Vũ Đặng2026-07-31 | Hải Vân Quan là một di tích lịch sử quân sự kiên cố, được xây dựng vào năm 1826 dưới thời vua Minh Mạng trên đỉnh đèo Hải Vân. Nơi đây được mệnh danh là "Thiên hạ đệ nhất hùng quan", nằm ngay ranh giới giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế.Euro Garden (Vườn Châu Âu) tọa lạc tại khu vực đồi chè Cầu Đất, TP. Đà Lạt.Trần Vũ Đặng2026-07-27 | Euro Garden (Vườn Châu Âu) tọa lạc tại khu vực đồi chè Cầu Đất, TP. Đà Lạt. Đây là tổ hợp rộng 7,2ha nổi bật với không gian thơ mộng, mang đậm chất Bắc Âu. Được chia thành nhiều phân khu với các tiểu cảnh mang phong cách châu Âu như đoàn tàu xe lửa đỏ, cối xay gió khổng lồ, bốt điện thoại kiểu Anh, cùng hàng chục ngàn khóm hoa thay sắc theo mùa.Nhà hát Đó (Đó Theatre) nổi bật với thiết kế kiến trúc khổng lồ lấy cảm hứng từ chiếc đó.Trần Vũ Đặng2026-07-26 | Nhà hát Đó (Đó Theatre) nổi bật với thiết kế kiến trúc khổng lồ lấy cảm hứng từ chiếc "đó" (ngư cụ bắt cá dân gian Việt Nam). Nơi đây là trung tâm nghệ thuật đương đại mang đẳng cấp quốc tế tại phố biển Nha Trang,nằm trong quần thể phức hợp Vega City (nay thuộc dự án Libera Nha Trang) Kiến trúc: Mặt tiền nhà hát được tạo hình đan lưới như chiếc đó bắt cá khổng lồ, kết hợp cùng họa tiết mô phỏng nhánh san hô và ngọc trai. Công trình có diện tích khoảng 2.500 m², sức chứa 536 ghế ngồi. Trải nghiệm nghệ thuật: Nhà hát là nơi biểu diễn các chương trình thực cảnh kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật như rối nước, rối bóng, múa đương đại và xiếc. Các show diễn nổi bật tại đây gồm có Rối Mơ (Life Puppets) và Chum Show.Lăng Khải Định (Ứng Lăng)Trần Vũ Đặng2026-07-22 | Lăng Khải Định (Ứng Lăng) là nơi an nghỉ của vị vua thứ 12 triều Nguyễn. Được xây dựng từ năm 1920 đến 1931 trên núi Châu Chữ (Huế), lăng là một tuyệt tác kiến trúc giao thoa độc đáo giữa văn hóa phương Đông và phương Tây, nổi bật với nghệ thuật khảm sành sứ đỉnh cao. 1. Lịch sử xây dựng lăngVua Khải Định lên ngôi năm 1916. Khác với các vị vua tiền nhiệm thường chọn đất xây lăng khi còn sống và thực hiện theo kiến trúc truyền thống, ông đã chọn núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) và đích thân thiết kế lăng mộ cho riêng mình. Khởi công: Ngày 4 tháng 9 năm 1920.Thời gian: Mất 11 năm ròng rã mới hoàn thành. Để có kinh phí xây dựng xa hoa, vua Khải Định đã xin phép chính phủ bảo hộ Pháp cho phép phụ thu 30% thuế điền trên cả nước. Hoàn thành: Vua Khải Định qua đời năm 1925 trước khi lăng hoàn thiện. Đến năm 1931, người kế vị là vua Bảo Đại mới hoàn tất công trình này. 2. Kiến trúc giao thoa Đông - TâyLăng Khải Định là công trình đánh dấu sự phá vỡ mọi quy chuẩn kiến trúc lăng tẩm truyền thống của triều Nguyễn. Quy mô lăng tuy nhỏ hẹp (117m × 48,5m) nhưng lại vô cùng công phu. Tổng thể là một khối nổi hình chữ nhật vươn cao với 127 bậc thang, mang vẻ đẹp pha trộn ngoạn mục: Vật liệu hiện đại: Vua đã cho người sang Pháp đặt mua xi măng, sắt thép, ngói ác-đoa (loại ngói đá đen của Pháp), và sang Nhật Bản, Trung Quốc để mua sứ, thủy tinh màu. Cổng Tam quan & Nghi môn: Được thiết kế theo hình dáng các cổng thành châu Âu, nhưng mái lại mang đậm chất Á Đông truyền thống. Cung Thiên Định: Đây là điểm nhấn lộng lẫy nhất nằm ở vị trí cao nhất. Bên trong cung được chia thành 3 gian, các bức tường và cột trụ đều được trang trí bằng nghệ thuật khảm sành sứ (ghép từ hàng ngàn mảnh sứ và thủy tinh nhập khẩu) tạo nên các bức tranh tuyệt mỹ về tứ linh, tứ quý. Bửu tán (Mái vòm): Nằm ở gian giữa cung Thiên Định, bên dưới đặt tượng đồng và thi hài nhà vua. Dù làm bằng bê tông cốt thép nặng hàng tấn, chiếc mái vòm này được chạm trổ thanh thoát như lụa mềm, phía dưới trang trí 9 con rồng uốn lượn vô cùng sống động. Tượng đồng: Đúc năm 1922 tại Pháp, có kích thước bằng người thật. Ngày nay, Lăng Khải Định là một phần quan trọng trong quần thể di tích Cố đô Huế, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào năm 1993.